Nhân dịp bước sang năm mới 2019, xin gửi đến bạn hữu gần xa truyện ngắn...

Nhân dịp bước sang năm mới 2019, xin gửi đến bạn hữu gần xa truyện ngắn "Ngôi nhà hoang trong đêm". Đây là truyện ngắn thứ hai giới thiệu cùng bạn đọc trên facebook. Mong các bạn đón nhận, góp ý và chia sẻ. Xin chúc tất cả các bạn năm mới nhiều sức khỏe, hạnh phúc và bình an!
NGÔI NHÀ HOANG TRONG ĐÊM
Truyện ngắn của Phạm Công Thắng
Nhà ông bà Thìn nằm tọa lạc trên một khu đất rộng sau một lùm tre cuối làng Cổ Bi, bên cạnh một ngôi nhà gia chủ bỏ lại từ nhiều năm trước để theo con vào Cần Thơ sinh sống. Ông bà Thìn sinh được hai mụn con gái. Đứa đầu lấy chồng ở mãi huyện Cần Giờ, Sài Gòn. Đứa thứ hai đang học năm thứ ba tại một trường đại học ở Hà Nội, năm thì mười họa mới về nhà thăm bố mẹ.
Bà Thìn mấy năm nay bỗng mắc chứng bệnh kinh niên, hễ trái gió trở trời là đau thắt hai bên nửa đầu, mỗi lần lên cơn, hai mắt bà trợn ngược, gào thét như điên dại khiến cho ông Thìn hết sức lo lắng. Đã nhiều lần ông đưa bà vào Viện Quân y trên tỉnh rồi lại tìm đến cả các thầy lang khắp trong Nam ngoài Bắc. Hễ ai mách đâu có thuốc quý là ông tìm mua cho bằng được, nhưng bệnh tình bà vẫn không hề thuyên giảm.
Rồi cũng đến ngày phải về quê giỗ mẹ, vì đường xa không thể đi lại trong ngày nên ông Thìn tỏ ra băn khoăn lo lắng. Nhìn vẻ mặt chồng, bà Thìn liền nói:
- Thôi ông cứ yên tâm mà đi, ở nhà có gì tôi sẽ gọi bà Thanh bên xóm dưới sang ngủ với tôi một đêm.
Nghe vợ nói vậy, ông phần nào cũng yên tâm nhưng vẫn cẩn thận dặn bà:
- Bà ở nhà tuyệt đối đêm hôm không được ra ngoài, dạo này hay có gió độc, dễ cảm lắm đấy! Đồ ăn thức uống tôi đã chuẩn bị sẵn trong gác-măng-giê, bà cứ thế mà dùng.
Chuyện như thế thì chẳng có gì để nói, nhưng có điều lạ là không hiểu sao dạo này cứ đến nửa đêm là bà Thìn lại thức dậy rồi ngồi thu lu một mình bên góc giường lẩm bẩm một mình. Có đêm, nằm ngủ phòng bên, ông nghe tiếng bà Thìn la hét ầm ĩ, hoảng hốt ông chạy sang phòng thì không thấy bà đâu. Cầm chiếc đèn pin trên tay, ông tất tưởi chạy ra khu vườn chuối sau nhà tìm bà nhưng cũng chẳng thấy. Ông lại quay vào nhà thì kỳ lạ thay bà vẫn đang nằm ngủ trên giường như không hề có chuyện gì xảy ra.
Sau hôm về quê, ông sang nhà ông Lan, người bạn thân thiết cùng quân ngũ từ năm 1972 ở chiến trường Đông Nam Bộ rồi đem những thắc mắc của mình kể cho ông Lan nghe. Vốn là lính, không tin vào chuyện tâm linh, ông Lan khuyên bạn:
- Có thể là chị nhà ốm đau lâu ngày, thần kinh không ổn định mới có hiện tượng như vậy, ông yên tâm đi.
Từ phía bên kia giường, đang ngồi têm trầu, bà Nguyệt vợ ông Lan nói vọng sang:
- Tôi thì nghĩ không khéo vợ ông bị ma nhập rồi.
- Bà chỉ được cái nói linh tinh, ma quỷ nào? Đúng là chuyện đàn bà.
Nét mặt tỏ vẻ khó chịu, ông Lan bảo vợ:
- Thôi bà xuống bếp đun phích nước sôi, tôi pha ấm trà mời ông Thìn, nước nguội quá!
Sau hôm ở nhà ông Lan về, ông Thìn cứ suy nghĩ mãi về lời bà Nguyệt nói vợ mình bị ma ám. Một buổi trưa hè nóng nực, đang nằm ngủ mê mệt, bỗng ông thấy trước cửa nhà, bóng một người phụ nữ mặc bộ đồ trắng toát, hai mắt đỏ ngầu, nhìn ông như trách móc. Hoảng hốt, ông ngồi vụt dậy mồ hôi vã ra ướt đẫm cả cái áo may ô đang mặc. Trời ơi! Hóa ra đây chỉ là một giấc mơ nhưng nó cũng làm cho ông một phen hú vía.
Buổi tối hôm đó, sau khi đi dự đám giỗ nhà một người bạn về, đang chếnh choáng hơi men, ông Thìn rút chùm chìa khóa trong túi quần ra định mở cổng vào nhà thì giật bắn mình. Khi nhìn sang ngôi nhà hoang bên cạnh, ông Thìn thấy có ánh đèn sáng lờ mờ và bên trong thấp thoáng có bóng người đi lại. Ông vội vàng mở cửa rồi đi thẳng vào buồng xem vợ mình đã ngủ chưa thì chẳng thấy bà ấy đâu. Giờ này có bao giờ bà ấy đi ra ngoài đâu. Lo lắng, ông lao nhanh ra vườn cố gọi thật to:
- Bà nó ơi, bà nó đâu rồi?
Giọng ông thất thanh, lạc lõng vọng xa văng vẳng trong đêm tối. Đáp lại chỉ có màn đêm tĩnh mịch và lãnh lẽo ghê người. Quay vào nhà, ông đi thẳng vào phòng ngủ thì lại thấy vợ vẫn đang nằm ngủ say trên giường, đầu nghẹo sang một bên, chiếc chăn chiên mà bà đang đắp thì rơi xuống sàn nhà. Mệt mỏi, bước ra ngoài phòng khách, ông ngồi phịch xuống chiếc sofa cũ đã ngả màu, ngả lưng trấn tĩnh lại và định bụng lát nữa sẽ hỏi bà về chuyện kì lạ mà ông vừa gặp. Nhưng rồi ông ngủ thiếp đi lúc nào không biết, mãi cho đến khi ánh mặt trời gay gắt chiếu từ bên ngoài ô cửa sổ hắt mạnh vào khuôn mặt hốc hác của mình, ông mới bừng tỉnh.
Vài ngày sau, vào một đêm mùa hạ trời tối đen như mực, bỗng đâu có cơn giông bất ngờ ập tới, gió giật mạnh như bão làm quật đổ những khóm chuối sau vườn, khiến căn nhà cấp bốn của ông rung chuyển như muốn đổ sập. Ông Thìn tất tưởi chạy ra đóng kín các ô cửa sổ trong nhà, nhưng vẫn không ngăn nổi tiếng gió rít từ bên ngoài qua khe cửa thổi vào làm cho bà Thìn sợ hãi ngồi co rúm. Kéo tay vợ đưa vào trong buồng, Ông Thìn hổn hển nói:
- Thôi bà vào nằm nghỉ đi, tôi ra ngoài xem cái chuồng gà ra sao.
Bà Thìn ngoan ngoãn ngồi thụp xuống giường, nhìn theo bóng chồng khuất dần sau khung cửa. Bỗng bà Thìn thấy ớn lạnh bởi một bàn tay ai đó đang vuốt nhẹ lên tấm thân gày gò ốm yếu của mình. Trong cơn mơ màng, bà thấy một phụ nữ vận bộ đồ đen, miệng thì thầm:
- Ngày xưa bà đã cướp chồng tôi, giờ tôi cho bà sang cõi khác mà vui nhé!
Nói rồi bóng ma túm tóc bà lôi đi xềnh xệch mặc cho bà la hét van xin.
Bên ngoài, gió vẫn giật mạnh, sau khi ra ngoài đóng kín và che chắn chuồng gà, ông Thìn lật đật chạy vào nhà. Ông bỗng chết lặng khi nhìn thấy vợ mình mặt tái tím đang nằm co quắp dưới sàn nhà. Ông liền bế thốc bà lên giường gặng hỏi:
- Bà sao vậy?
Bà Thìn mở to đôi mắt nhìn chồng, giọng yếu ớt:
- Ông ơi nhà có ma, có ma...
- Ma nào, bà làm tôi sợ chết khiếp đi được, ông Thìn nói đầy vẻ lo lắng.
Rồi bà kể cho ông nghe câu chuyện khủng khiếp mà bà vừa bắt găp. Nghe vợ kể, sắc mặt ông như biến dạng bởi từ trước đến nay ông đâu có tin vào hồn ma, nhất là chuyện mê tín dị đoan, bói toán nơi cửa phủ thì ông càng chúa ghét. Nhưng sau khi xâu chuỗi lại những sự việc đã diễn ra với vợ chồng ông, ông thấy nửa tin nửa ngờ. Với bản lĩnh của người lính từng kinh qua trận mạc, ông quyết chí sẽ đối diện với sự thật để giải mã tấn bi kịch mà gia đình ông đang gánh chịu.
Bẵng đi một thời gian, dạo đó vào dịp cận tết, mọi người trong thôn đang bận rộn chuẩn bị cho cái tết cổ truyền đang đến rất gần. Bà Thìn bàn với chồng:
- Ông à, tôi định mua bên nhà bà Sáng ít gạo nếp, đỗ xanh, thịt lợn và lá dong, tết này nhà mình gói bánh chưng để đón vợ chồng cái Bình con An về ăn tết cho vui vẻ, ông thấy thế nào?
- Ừ. Thì bà cứ làm đi, tết năm nào nhà mình chẳng có đôi cặp bánh chưng để cúng gia tiên chứ.
Đêm 28 tết, trời tối đen như mực, ngồi bên nồi bánh chưng đang sôi sùng sục, Bà Thìn thở dài;
- Chẳng hiểu hai đứa chúng nó bận gì mà giờ này vẫn chưa về?
Ông Thìn an ủi vợ:
- Thì năm nào vợ chồng con Bình chẳng bận làm đến 29 tết, sau đó còn đi sắm sửa. Còn cái An chắc lại cùng thằng người yêu đi đâu đó, sớm muộn gì thì trưa mai chúng nó sẽ có mặt ở nhà thôi.
Màn đêm buông xuống tĩnh mịch sâu lắng, càng về khuya trời càng trở lạnh, ông Thìn giục vợ vào nhà ngủ sớm còn mình thì ngồi canh chừng nồi bánh chưng.
Đang mông lông suy tư, bỗng phía sau lưng có ai đó gọi giật giọng, khiến ông giật bắn mình:
- Anh Thìn ơi em Lam đây!
aKhông tin vào tai mình, ông ngoảnh mặt lại thì thấy bóng một người con gái thướt tha trong bộ váy dài trắng tiến lại gần ông.
- Trời có phải Lam đó không? - Tiếng ông nghẹn ngào.
- Lam đây, Lam ngày xưa của anh đây!
Mừng rỡ, ông vội chạy lại run rẩy nắm bàn tay ấm áp của nàng, trong niềm vui hạnh phúc dâng trào. Nhưng rồi ông bừng tỉnh khi nhận ra bàn tay đó không phải của nàng mà là của bà Thìn, nhăn nheo thô ráp.
Bà Thìn ngỡ ngàng nhìn ông nói:
- Ông sao vậy tôi đây chứ Lam nào? À, hóa ra đến giờ ông vẫn mơ tưởng đến người phụ nữ đó sao?
Không trả lời bà Thìn, ông lặng lẽ đi thẳng vào nhà nằm vật xuống chiếc ghế đi văng, không hiểu chuyện gì đã xảy ra với mình. Ông chợt nghĩ đến ngôi nhà hoang bên cạnh, thấy có gì đó không ổn.
Một buổi tối sau Tết âm lịch, cơm nước xong xuôi, bà Thìn đang lúi húi dưới bếp rửa bát thì ông Thìn lững thững đi ra khu vườn chuối sau nhà. Ông định bụng đêm khuya sẽ sang ngôi nhà hoang tìm hiểu sự tình về cái bóng ma bí ẩn đã làm ông mất ngủ mấy đêm nay.
Từ nhà ông muốn vào ngôi nhà hoang bên cạnh phải đi qua một cái cổng xi măng lớn có đôi cánh cửa sắt hoen gỉ, một bên cánh đã đổ sập, sau đó vượt qua một khu vườn rộng chừng vài trăm mét, cỏ dại và lau sậy mọc um tùm. Xung quanh căn nhà, chủ nhân đã xây bốn bức tường đá bao bọc, cao quá đầu người, rêu phong phủ kín, nhiều đoạn tường đã bị trâu bò và lũ trẻ trong làng trèo leo vào chơi đùa phá đổ. Mặt tiền ngôi nhà còn khá nguyên vẹn, đôi cánh cửa gỗ lim được trạm trổ tinh vi theo thời gian đã ngả màu đen bóng tuy nhiều chỗ đã bị rạn nứt. Những gì còn lại cho thấy ngôi nhà được xây cất từ thập niên 50 của thế kỷ 20 từng là ngôi nhà rất sang trọng, lưu dấu một thời vàng son của gia chủ giàu có bậc nhất nhì làng.
Cầm chiếc đèn pin trong tay, vừa đi ông Thìn vừa lia quét ánh sáng xuống phía trước con đường khiến cho lũ chuột hoang kêu chút chít bỏ chạy tán loạn. Thấy ánh sáng lạ, từ trong bụi rậm, một con rắn hổ mây dài chừng hơn hai mét mắt xanh lè miệng phun nọc độc bỗng nhiên lao tới chắn ngang đường ông. Phản xạ tự vệ, ông nhổ ngay cái cọc tre bên cạnh phang tới tấp vào đầu con rắn, nhưng lạ kì thay, càng đánh con rắn càng tỏ ra hung hãn, nó lao tới quấn chặt vào chân ông khiến ông ngã dúi xuống rơi vào cái hố vôi mà xưa kia gia chủ chưa kịp lấp. Trong cơn hoảng loạn ông thấy một bàn tay vô hình nâng đỡ ông dậy và sau đó ông ngất lịm đi.
Sáng sớm hôm sau, bà Thìn dậy rất sớm và cứ đinh ninh rằng ông đang tập thể dục ngoài vườn nên quay vào bếp đun ấm nước sôi cho vào phích để lúc về ông có nước pha trà uống như thường lệ. Nhưng chờ mãi không thấy ông Thìn đâu, bà vội chạy ra khu bờ ao xem ông có ra đó cho cá ăn hay không nhưng chẳng thấy bóng dáng ông đâu. Linh tính chẳng lành, bà chạy hớt hải sang khu nhà hoang thì thấy ông đang nằm bất động trên bờ một hố nước sâu, bên cạnh là đôi dép cao su và chiếc đèn pin lấm lem bùn đất.
- Bớ làng ơi, có ai đó không cứu, cứu!!!
Từ bên kia đường, anh Thủy, người hàng xóm vừa đi tập thể dục về vội vã chạy vào hỏi:
- Có chuyện gì đó bà Thìn?
- Ông nhà tôi không hiểu sao lại nằm ở đây, anh xem đưa ông ấy vào nhà giúp tôi với.
Anh Thủy vội bế thốc ông Thìn lên chạy về nhà ông bà. Đặt ông nằm xuống chiếc giường một kê trong phòng khách, anh Thủy giục bà Thìn lấy lọ cao sao vàng để anh đánh gió giải cảm cho ông. Không quên dặn bà xuống bếp làm cốc nước gừng nóng cho ông uống. Sau khi xoa bóp hai bên thái dương và dùng đồng bạc trắng hoa xòe liên tục cạo lên vùng lưng rồi cho ông uống cốc nước gừng nóng, vài phút sau ông Thìn hồi tỉnh, mệt mỏi hỏi:
- Tôi đang ở đâu vậy?
Thấy chồng đã qua cơn nguy kịch, bà Thìn gặng hỏi mãi ông mới kể lại sự tình đêm qua ông đã sang ngôi nhà hoang để đối diện với bóng ma lạ.
Nghe chồng nói vậy, bà Thìn suy nghĩ tại sao từ xưa đến nay ông bà luôn ăn ở thuận hòa với bà con lối xóm, chưa gây điều ác với ai, sao bây giờ lại liên tục gặp phải những điều chẳng lành. Và bà lại đặt câu hỏi liệu có phải khu đất mà cha mẹ chồng để lại có vấn đề gì về mặt phong thủy hay không? Hay đúng như các cụ bô lão trong làng kể thì mảnh đất này xưa kia là nghĩa địa Tàu nên ma quỷ thường về đây hiện hình quấy rối?
Dịp nghỉ hè năm nay, vợ chồng cô con gái cả đưa các cháu từ Sài Gòn về thăm ông bà, nhìn thấy cha mẹ hốc hác tiều tụy, Bình liền hỏi:
- Trời ơi sao dạo này thầy mẹ gầy và xanh xao thế ạ. Hay thầy mẹ có chuyện chi mà giấu tụi con?
Nghe con gái hỏi vậy, biết không thể giấu, ông Thìn bèn đem chuyện ma quỷ quấy nhiễu ra kể các con hay. Nghe thầy mẹ kể, Bình và chồng nàng đều không tin là chuyện ấy lại có thật.
- Thầy mẹ ơi, thầy mẹ thần hồn nát thần tính tưởng tượng ra chứ từ ngày chúng con sinh ra rồi lớn lên ở đây làm gì có thấy con ma con quỷ nào bao giờ ạ? Bình nhẹ nhàng nói.
- Vậy không có thật mà thầy mẹ bịa chuyện chắc? Ông Thìn nói.
Chồng Bình, làm bên Viện nghiên cứu tiềm năng con người ở Sài Gòn, nãy giờ nghe thầy mẹ kể chuyện, giờ mới lên tiếng:
- Thầy ơi, hiện nay khoa học chưa đưa ra một bằng chứng thuyết phục nào là thế gian này có ma quỷ đâu ạ! Tuy nhiên ở một số nước phương Tây, nhiều người vẫn nửa tin nửa ngờ là có hồn ma. Họ quan niệm rằng khi người ta chết đi, linh hồn vẫn tồn tại. Vì một lý do nào đó, linh hồn đã “lạc lối” khi đang trên đường sang thế giới bên kia và thường hay lảng vảng bên cạnh người thân, có khi là phù hộ, cũng có khi là oán giận vì một chuyện gì đó còn vướng mắc trên trần thế. Nhưng đó chỉ là suy đoán, con mong thầy mẹ hãy bình tâm sống không tin vào chuyện ma quỷ mà ảnh hưởng sức khỏe.
Thấm thoát đã được hơn hai tháng kể từ ngày vợ chồng cái Bình về thăm nhà, mọi việc có vẻ như đã trở lại bình thường, sức khỏe của bà Thìn được cải thiện rõ rệt khiến ông Thìn rất vui. Sau bữa cơm chiều, ông lấy hộp chè tàu trong tủ bích phê mà hôm chủ nhật tuần trước cậu bạn trai cái An về chơi biếu, đem ra pha rồi tự thưởng cho mình một cốc trà nóng sánh đặc. Tiện thể, ông đưa tay bật chiếc radio Sanyo cũ rồi ung dung ngồi nghe chương trình thời sự của Đài tiếng nói Việt Nam.
Chợt như nhớ ra điều gì, ông lên tiếng gọi:
- Bà nó ơi ra đây uống với tôi tách trà.
Nghe chồng gọi, bà Thìn từ trong buồng bước ra nói:
- Hôm nay ông có chuyện gì vui mà gọi tôi ra uống trà, ông biết từ xưa đến nay tôi có biết uống trà đâu cơ chứ.
- Thì bà cứ ngồi xuống đây, lâu lắm rồi vợ chồng mình không có thời gian trò chuyện. Giọng ông Thìn nhỏ nhẹ.
- Vâng tôi cứ đau ốm quặt quẹo như vậy thì vui vẻ gì mà nói chuyện chứ. Bà vừa nói vừa ngồi xuống bên chồng nhìn âu yếm.
Nhưng thứ hạnh phúc nhỏ nhoi bất chợt ấy chỉ đến với ông bà Thìn trong giây lát. Mấy ngày sau, ông Thìn bỗng nhiên ngả bệnh do chứng sốt rét kinh niên hồi ở chiến trường tái phát. Bà Thìn đứng ngồi không yên, chiều hôm ấy nhờ anh Thủy đèo lên Thị trấn huyện đánh điện cho vợ chồng cái Bình về gấp để lo bệnh tình của bố. Được tin, vợ chồng Bình tất tưởi bắt tàu nhanh Thống nhất từ Sài Gòn về rồi vội vàng đưa bố vào cấp cứu tại khoa lây của bệnh viện Tỉnh. Sau khi khám và xét nghiệm tổng thể, bác sỹ kết luận ông bị bệnh sốt rét ác tính biến chứng dẫn đến viêm gan, suy thận nên phải điều trị dài ngày ở bệnh viện. Vốn cơ thể đã bạc nhược từ lâu cộng thêm chứng mất ngủ giờ lại bị căn bệnh ác tính hành hạ khiến ông Thìn gầy yếu đi trông thấy. Có đêm ông nằm mơ thấy mình đang đi trong một ngõ vắng bắt gặp một con ma dẫn ông xuống một đường hầm xuyên sâu dưới lòng đất, rồi ông cứ đi theo bóng ma đó xuống tận địa ngục. Ông nhìn thấy Diêm La Vương, người cai quản một trong mười cửa địa ngục, đang hạ lệnh cho đao phủ tra tấn những kẻ trước đây từng gây tội trên hạ giới. Và khi nghĩ đến việc mình từng bội bạc với người vợ sắp cưới 50 năm trước thì ông vô cùng kinh sợ. Đang mông lung lo lắng, bỗng một gã đao phủ mặt sắt đen sì hét lên:
- Thằng kia, sao không nằm xuống?
Hoảng hốt, ông co rúm người nói không ra hơi:
- Con xin ngài tha cho!
Không để cho ông phân trần thêm một câu nào, hắn sai tay chân vật cổ ông nằm xuống rồi tới tấp phang mạnh chiếc roi sắt xuống tấm lưng còm của ông khiến ông đau đớn rồi ngất lịm.
Sáng sớm hôm sau, khi cô y tá ngày nào cũng vào tiêm thuốc cho ông bước vào thì ông thần hồn nát thần tính hoang tưởng nghĩ rằng ai đó sắp tra tấn mình nên ông nhắm nghiền mắt sợ hãi.
- Bác làm sao vây? Cô y sỹ từ tốn hỏi.
Lúc này, cái Bình con gái ông từ ngoài cửa bước vào, tay cầm chiếc cặp lồng cháo vội đáp:
- Chắc đêm qua thầy em không ngủ được nên biểu hiện vậy thôi chị ạ!
Sau một đợt điều trị kéo dài, bệnh tình ông có phần thuyên giảm. Nhưng đổi lại, từ một người khỏe mạnh nhanh nhẹn, bệnh tật đã vật ông Thìn thành ông già tiều tụy, khổ hạnh.
Và một thước phim quay chậm của hơn 50 năm trước đang hiện dần lên trong đầu ông.
---
Ngày ấy, khoảng năm 1960, theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc, ông lên đường tòng quân và được biên chế vào binh trạm 20, mặt trận Đông Nam Bộ. Chàng trai thư sinh đeo quân hàm binh nhất, bỡ ngỡ trong bộ quân phục rộng thùng thình, lên nhà bếp nhận cơm trưa cho tiểu đội bỗng bắt gặp ánh mắt hút hồn của nữ quân nhân nhà bếp binh đoàn, thế rồi chàng với nàng đã bén duyên tự lúc nào không hay. Thế là những lá thư tình chàng viết cho nàng trong đêm, chiếc khăn mùi xoa thêu đôi chim bồ câu nàng lén trao vội cho chàng đã khiến tình yêu đôi trẻ ngày càng nồng đượm. Tình yêu giấu diếm vụng trộm càng làm hai người đắm say bất chấp đơn vị quân đội ngày ấy cấm nam nữ yêu nhau. Với chàng thì quy định ấy nửa như thách thức nửa như giễu cợt bởi trong tình yêu không có chỗ cho ranh giới và sự cấm đoán. Rồi những đêm hai người trốn đơn vị để gặp nhau bên bờ suối và trao cho nhau những nụ hôn thắm nồng khiến chàng quên đi lời hẹn ước năm nào với cô thôn nữ xinh đẹp Thúy Lam ở quê nhà. Rồi chiến tranh cũng qua đi, sau ngày rời quân ngũ, chàng đã cùng nàng Mai trở về vùng đất Gia Viễn, Ninh Bình để nên duyên vợ chồng, mặc cho cha mẹ chàng hết lời can ngăn và niềm đau đớn đến cùng cực của người con gái mà gia đình chàng đã bỏ trầu dạm ngõ. Mùa thu năm ấy, chàng nghe tin sét đánh, Thúy Lam người con gái một thời chàng hết lòng yêu thương, đã lìa xa trần thế bởi mắc phải căn bệnh trầm cảm rồi uống thuốc ngủ và ra đi mãi mãi ở tuổi hai mươi tám.
---
Phải chăng cái chết ấm ức của người con gái ấy đã khiến linh hồn nàng không thể siêu thoát và đêm đêm về ẩn nấp trong ngôi nhà hoang oán thán người xưa phụ bạc?
Mùa đông năm 2017

facebook Phạm Công Thắng

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

BÌ LỒN CON ĐĨ…

Có gan ăn muống thì có gan lội hồ! La cái giề?

Trên đường thiên lý thọ nạn tai